Vấn đề được nêu ra trong hầu hết các đơn kiện là việc Mỹ đă áp dụng trái phép phương pháp “triệt tiêu” (zeroing) để làm giảm giá trung b́nh của tôm nhập khẩu từ Êcuađo vào Mỹ. Êcuađo đă tŕnh bày với WTO rằng nếu không áp dụng phương pháp “zeroing” th́ Mỹ không thể áp thuế CBPG đối với tôm của Êcuađo.
Vấn đề thứ hai được đưa ra là quy định kư quỹ 100%. Thay v́ thu tiền kư quỹ dựa trên quá tŕnh hoạt động hoặc kinh nghiệm của công ty th́ hải quan Mỹ lại yêu cầu các nhà nhập khẩu phải kư quỹ 100% tiền thuế hàng năm. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các công ty phải nộp thuế 2 lần.
Theo Tổng Thư kư Hiệp hội Xuất khẩu Thủy sản Ấn Độ, quy định kư quỹ này khiến các công ty rơi vào t́nh trạng ứ đọng vốn. Các công ty vừa và nhỏ sẽ mất cơ hội xuất khẩu sang thị trường Mỹ.
Ước tính Ấn Độ có khoảng 230 công ty xuất khẩu tôm sang Mỹ trước khi nước này bị áp thuế CBPG vào tháng 8/2004. Đến nay, chỉ c̣n 125 công ty tiếp tục xuất khẩu sang Mỹ, trong đó có một số công ty mới.
Chỉ tính riêng ở Kerala, số lượng các công ty xuất khẩu tôm sang Mỹ đă giảm từ 54 xuống c̣n 23, trong đó có 4 công ty mới.
Sau khi bị áp thuế CBPG, xuất khẩu tôm của Ấn Độ sang Mỹ ước đạt gần 55.250 tấn, trị giá khoảng 21.500 triệu rupi.
Theo số liệu của Bộ Thương mại Ấn Độ, tổng số tiền thuế phải nộp cho Mỹ lên tới gần 48 triệu USD. Tiền kư quỹ hàng năm chiếm hơn 10% doanh thu hàng năm của các nhà xuất khẩu, gây t́nh trạng ứ đọng vốn. |