ADV in VASEP
ẤN PHẨM MỚI
ẤN PHẨM MỚI


 
Thương mại thuỷ sản của Ôxtrâylia (tiếp theo)
(Vasep, 19/8/2008)
Hồng Kông, Nhật Bản Mỹ những thị trường XK chính đối với thuỷ sản giáp xác nhuyễn thể của Ôxtrâylia...

Xuất khẩu theo nước

Thuỷ sản ăn được (trừ thuỷ sản sống)

Các nước NK chính: Hồng Kông, Nhật Bản và Mỹ

Năm 2006 - 2007, Hồng Kông là thị trường XK chính của thuỷ sản Ôxtrâylia. Về giá trị, 40% thuỷ sản ăn được của nước này được xuất sang Hồng Kông (447 triệu USD) và 27% xuất sang Nhật Bản (306 triệu USD). Các thị trường khác gồm Mỹ 115 triệu USD, Trung Quốc 59,3 triệu USD và Trung Quốc - Đài Loan 50,5 triệu USD.

Sản phẩm chính xuất sang Hồng Kông là tôm hùm và bào ngư. Năm 2006 - 2007 XK tôm hùm sang Hồng Kông tăng 3% đạt 235 triệu USD, trong khi tổng giá trị XK bào ngư sang thị trường này tăng 32% lên 149 triệu USD. Hai mặt hàng này chiếm gần 3/4 tổng khối lượng XK thuỷ sản sang Hồng Kông và chiếm 86% giá trị.

Cá ngừ nguyên con, tôm hùm, tôm và bào ngư chiếm 94% giá trị XK thuỷ sản ăn được sang thị trường Nhật trong năm 2006 - 2007. Tuy nhiên, kim ngạch XK 4 loài này giảm xuống 64,9 triệu USD, chiếm 18% tổng kim ngạch XK. XK cá ngừ nguyên con giảm 20,5 triệu USD (12%), trong khi XK tôm hùm, tôm và bào ngư giảm lần lượt 17,7 triệu USD (25%), 14,2 triệu USD (24%) và 13 triệu USD (24%).   

Từ năm 2000 - 2001, kim ngạch XK thuỷ sản sang Nhật giảm 65% (557 triệu USD) do khối lượng XK các sản phẩm chính giảm (cá ngừ, tôm hùm, tôm và cá khác) và do đồng AUD tăng giá so với yên Nhật khiến giá XK thuỷ sản giảm, nhất là giá tôm.

Tôm hùm là mặt hàng XK chính sang thị trường Mỹ, Trung Quốc và Trung Quốc - Đài Loan. Năm 2006 - 2007, kim ngạch XK tôm hùm sang những nước này đạt lần lượt  97,8 triệu USD (chiếm 85% XK sang Mỹ), 24,3 triệu USD (chiếm 41%) và 30,1 triệu USD (60%). 

Ôxtrâylia XK cá chủ yếu sang thị trường Nhật Bản (cá ngừ và cá hồi), Mỹ (cá ngừ) và Thái Lan (cá tuyết). Năm 2006 - 2007 Nhật Bản chiếm 93% giá trị XK cá ngừ nguyên con và Thái Lan chiếm 60% giá trị XK cá tuyết nguyên con. Phần lớn cá hộp được xuất sang Niu Dilân, chiếm 91% tổng XK cá ngừ hộp trong năm 2006 - 2007 và 85% XK cá hồi đóng hộp.

Hồng Kông, Nhật Bản và Mỹ là những thị trường XK chính đối với thuỷ sản giáp xác và nhuyễn thể của Ôxtrâylia, đạt lần lượt 429 triệu USD, 141 triệu USD và 104 triệu USD trong năm 2006 - 2007.  Ba nước này chiếm 77% tổng XK thuỷ sản giáp xác và nhuyễn thể của Ôxtrâylia. Các nước NK khác gồm Trung Quốc, Trung Quốc - Đài Loan và Xingapo.

Thuỷ sản không ăn được

Các nước NK chính: Hồng Kông, Nhật Bản và Mỹ

Năm 2006 - 2007, thị trường XK chính đối với thuỷ sản không ăn được của Ôxtrâylia như ngọc trai và bột cá là Hồng Kông (156 triệu USD), Nhật Bản (68,5 triệu USD) và Mỹ (34,3 triệu USD). Các thị trường khác gồm Niu Dilân và Inđônêxia.

Nhập khẩu

Tổng kim ngạch NK thuỷ sản của Ôxtrâylia năm 2006 - 2007 tăng 203 triệu USD (16%) lên 1,47 tỷ USD. Gần 80% trong đó là thuỷ sản ăn được, c̣n lại là thuỷ sản không ăn được.

Kim ngạch NK thuỷ sản ăn được tăng 15% lên 1,18 tỷ USD, trong đó tôm tươi/ướp lạnh/đông lạnh 246 triệu USD, cá hộp 244 triệu USD và cá philê đông lạnh 228 triệu USD.

Tổng kim ngạch NK cá của nước này tăng 99 triệu USD (16%) lên 701 triệu USD, do XK cá philê đông lạnh tăng về khối lượng và đơn giá. Kim ngạch NK cá hồi đóng hộp và hun khói tăng 14 triệu USD và 11,3 triệu USD do khối lượng và giá tăng.

Trong 1 thập kỷ qua, giá trị NK cá của Ôxtrâylia tăng 37% (188 triệu USD) do khối lượng NK tăng 47% (43.000 tấn). trong khi tỷ trọng nhập khẩu cá tuyết trong giai đoạn này giảm từ 12% tổng NK cá xuống 5%, tỷ trọng các sản phẩm khác như: cá hồi, cá ngừ và cá khác philê đông lạnh vẫn ổn định.

Thuỷ sản giáp xác và nhuyễn thể

Tổng giá trị NK thuỷ sản giáp xác và nhuyễn thể tăng 57 triệu USD (13%) trong năm 2006 - 2007 lên 483 triệu USD, chủ yếu do kim ngạch NK tôm tươi/ướp lạnh/đông lạnh tăng 45,4 triệu USD (23%) và NK tôm đóng hộp và chế biến tăng 6,7 triệu USD (12%).

Những sản phẩm này chiếm 52% về khối lượng và 64% về giá trị NK thuỷ sản giáp xác và nhuyễn thể của Ôxtrâylia trong năm 2006 - 2007. Các mặt hàng quan trọng khác gồm thuỷ sản có vỏ, mực và bạch tuộc (tổng trị giá 55,9 triệu USD trong năm 2006 - 2007) và điệp (29,8 triệu USD).

Khối lượng thuỷ sản giáp xác và nhuyễn thể NK tăng gấp 2 lần trong thập kỷ qua, từ 33.200 tấn năm 1997 - 1998 lên 65.000 tấn năm 2006 - 2007. Tuy nhiên, giá trị cỉ tăng 26% (101 triệu USD) do giá NK các loài có giá trị cao giảm. Giá điệp và tôm (đóng hộp và bảo quản) giảm lần lượt 39% và 33%, do đồng AUD tăng giá thúc đẩy NK tăng.

 Thuỷ sản không ăn được: ngọc trai và bột cá

Kim ngạch NK thuỷ sản không ăn được của Ôxtrâylia tăng 20% lên 283 triệu USD trong năm 2006 - 2007, trong đó ngọc trai chiếm 2/3 với 182 triệu USD, bột cá 40 triệu USD và dầu và mỡ cá 24 triệu USD.

NK ngọc trai tăng 14% (22,2 triệu USD) và NK bột cá tăng 82% (18 triệu USD). Hai sản phẩm này chiếm tổng cộng 78% giá trị NK thuỷ sản không ăn được của Ôxtrâylia.

Các nước cung cấp thuỷ sản cho Ôxtrâylia

Thuỷ sản ăn được

Các nguồn cung cấp chính: Thái Lan, Niu Dilân, Việt Nam và Trung Quốc

Thái Lan và Niu Dilân vẫn là nguồn cung cấp chính thuỷ sản ăn được, chiếm 40% tổng giá trị NK thuỷ sản ăn được của Ôxtrâylia trong năm 2006 - 2007 (chiếm lần lượt 24% và 16%). NK từ Thái Lan đạt trị giá 279 triệu USD và chủ yếu là cá hộp 151 triệu USD và tôm tươi/ướp lạnh/đông lạnh 48,2 triệu USD. NK từ Niu Dilân đạt 192 triệu USD gồm cá philê đông lạnh 58,8 triệu USD và cá nguyên con tươi/ướp lạnh 42,8 triệu USD.

Tuy nhiên, tỷ trọng NK từ Trung Quốc (156 triệu USD trong năm 2006 - 2007) và Việt Nam (155 triệu USD) tiếp tục tăng, mỗi nước chiếm 13% giá trị NK thuỷ sản ăn được của Ôxtrâylia. Trong một thập kỷ qua, giá trị NK thuỷ sản ăn được từ Trung Quốc và Việt Nam đă tăng lần lượt 139 triệu USD và 127 triệu USD.

Năm 2006 - 2007, kim ngạch NK thuỷ sản ăn được từ Trung Quốc tăng 54,7 triệu USD (54%). Giá trị NK tôm tươi/ướp lạnh và đông lạnh tăng gấp hơn 2 lần, lên 62,1 triệu USD, do khối lượng NK tăng 90% và giá trung b́nh tăng 11%. Giá trị NK thuỷ sản giáp xác và nhuyễn thể đóng hộp từ Trung Quốc cũng tăng 15,2triệu USD (91%) lên 32 triệu USD trong năm 2006 - 2007 do khối lượng NK tăng 81% và giá trung b́nh tăng 6%. Các sản phẩm quan trọng khác NK từ Trung Quốc gồm mực ống và bạch tuộc (17,3 triệu USD) và điệp (16,4 triệu USD).

Kim ngạch NK thuỷ sản từ Việt Nam tăng 22 triệu USD (1750 trong năm 2006 - 2007 do NK tôm tươi/ướp lạnh/đông lạnh tăng 13,5 triệu USD (19%) và NK cá philê đông lạnh (trừ cá tuyết) tăng 8 triệu USD (19%), chủ yếu do giá trung b́nh tăng.

Năm 2006 - 2007, 62% (151 triệu USD) NK cá hộp và 32% (32,6 triệu USD) NK thuỷ sản giáp xác và nhuyễn thể đóng hộp của Ôxtrâylia có xuất xứ từ Thái Lan, Niu Dilân chiếm 38% tổng NK cá tươi/ướp lạnh/đông lạnh (112 triệu USD), 21% nhuyễn thể tươi/ướp lạnh/đông lạnh (20,1 triệu USD) và 12% thuỷ sản giáp xác và nhuyễn thể đóng hộp NK (11,8 triệu USD). Gần 1/4 thuỷ sản khô và muối được NK từ NaUy (2,3 triệu USD), trong khi Đan Mạch cung cấp 55% NK cá hun khói của Ôxtrâylia (24 triệu USD).

Thuỷ sản không ăn được

Nguồn cung cấp chính: Pêru và Mỹ

Ôxtrâylia NK thuỷ sản không ăn được từ nhiều nước. Năm 2006 - 2007 NK từ Pêru và Mỹ chiếm 20% (33,7 triệu USD và 23,6 triệu USD). NK từ Pêru chủ yếu là bột cá, từ Mỹ là các sản phẩm khác. Các nước cung cấp khác gồm Niu Dilân (10,7 triệu USD) và Inđônêxia (7,8 triệu USD).

(C̣n nữa)

Lê Hằng

(TVH)




Tin Thị trường sản phẩm đă đăng:

CHUYÊN ĐỀ
Về vụ kiện tôm

QUẢN LƯ CHẤT LƯỢNG DOANH NGHIỆP

ADV in VASEP

THƯ VIỆN ẢNH ĐIỆN TỬ - VASEP

BẢNG GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TRỰC TUYẾN
Bảng giao dịch chứng khoán Trực tuyến

BẢNG TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
Bảng tỷ giá ngoại tệ

LỊCH TÀU THỦY VẬN CHUYỂN HÀNG
Lịch tàu thuỷ vận chuyển hàng

DỰ BÁO THỜI TIẾT
Dự báo thời tiết




 Số lượt truy cập:
© Copyright 2001-2008 VASEP.COM.VN, All rights reserved. Contact us
 
® Ghi rõ nguồn "VASEP.COM.VN" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.