Lần đầu tiên trong 10 năm qua khối lượng tôm nhập khẩu vào Mỹ giảm
Mỹ giảm nhập khẩu tất cả các sản phẩm tôm, trừ tôm thịt đông lạnh và một vài cỡ tôm nguyên vỏ đông lạnh là gia tăng về khối lượng và giá trị. Một số yếu tố đă ảnh hưởng tới thị trường tôm năm 2007: giá dầu tăng, kinh tế Mỹ suy thoái, sức tiêu dùng giảm, và các vấn đề liên quan tới chất lượng thuỷ sản từ Trung Quốc.
Trong biểu đồ trên, khối lượng tôm nhập khẩu vào Mỹ luôn tăng kể từ năm 1997 dù với tốc độ khác nhau. Giá trị tôm nhập khẩu th́ liên tục biến động v́ phụ thuộc vào mức giá quốc tế và cơ cấu nhập khẩu. Tôm nguyên vỏ đông lạnh các cỡ luôn là mặt hàng nhập khẩu chính, các sản phẩm có nhiều giá trị gia tăng hơn, như tôm đông lạnh bóc vỏ, tôm đông lạnh bao bột, và các mặt hàng đông lạnh khác (gồm tôm nấu chín, các món chế biến từ tôm và các sản phẩm khác) đều tăng thị phần.
Thông thường nhập khẩu tôm giảm từ đầu năm tới tháng 5, sau đó th́ tăng lên. Năm 2007, nhập khẩu tôm đă phục hồi từ tháng 8 tới tháng 11 nhưng vẫn thấp hơn những năm trước. Một mốc quan trọng trong hoạt động nhập khẩu tôm vào Mỹ là việc ngừng nhập khẩu tôm từ Trung Quốc trong tháng 6/2007 v́ nguyên nhân an toàn thực phẩm.
Thị phần tôm của Thái Lan tăng tại Mỹ
Thái Lan là nước cung cấp nhiều tôm nhất vào thị trường Mỹ trong năm 2007. Tôm từ Thái Lan chiếm 34% trong tổng khối lượng tôm nhập vào Mỹ năm ngoái. Nhà cung cấp lớn thứ 2 là Êcuađo, chiếm khoảng 11%. Trong năm 2006, nhà cung cấp tôm lớn thứ 2 tại Mỹ là Trung Quốc. C̣n năm ngoái, Trung Quốc đứng thứ tư, sau Inđônêxia. Thị phần tôm từ Trung Quốc trong năm 2007 giảm khoảng 25% về khối lượng, từ 11,5% năm 2006 xuống 8,7% trong năm 2007. Giá trị nhập khẩu tôm từ Trung Quốc cũng giảm.
Thái Lan cũng dẫn đầu về giá trị tôm xuất sang Mỹ với 1.235,8 triệu USD, chiếm 32% trong tổng giá trị tôm nhập vào thị trường này. Việt Nam đứng thứ 2 với 459,9 triệu USD và 12% thị phần. Inđônêxia với 447,2 triệu USD (11,5%) và Mêhicô với 358,5 triệu USD (9%). Êcuađo, đứng thứ 2 về khối lượng tôm xuất sang Mỹ, chỉ đứng thứ 5 về giá trị với 308,9 triệu USD (8% thị phần).
Những nước cung cấp tôm lớn nhất đều tăng khối lượng và giá trị tôm xuất sang Mỹ. XK tôm của Êcuađo sang Mỹ tăng 15% về khối lượng và 11% về giá trị, đồng thời mở rộng thị phần tại thị trường này với 22% về khối lượng và 17% về giá trị. 5 nước c̣n lại, gồm Thái Lan, Việt Nam, Inđônêxia, Mêhicô và Trung Quốc chiếm 78% thị phần về khối lượng và giá trị trong năm 2007, trong khi năm 2006 các nước này chỉ chiếm thị phần 76,6% và 75,7% về khối lượng và giá trị. Mặc dù XK tôm của Thái Lan giảm cả về khối lượng và giá trị nhưng vẫn chiếm thị phần lớn hơn.
Achentina không xuất tôm sang Mỹ trong năm 2005, nhưng từ năm 2006 đă tiếp tục xuất khẩu tôm vào thị trường này. Trong năm 2007, Achentina đă tăng khối lượng tôm xuất sang Mỹ lên 860% và tăng giá trị tôm xuất vào Mỹ lên 1037%, đạt 341,5tấn, trị giá 1.037,2 triệu USD. Tuy nhiên, thị phần của tôm Achentina vẫn thấp. 84% tôm xuất từ nước này vào Mỹ là tôm đông lạnh nguyên vỏ, 16% c̣n lại là các sản phẩm bóc vỏ đông lạnh.
34% khối lượng tôm xuất từ Thái Lan là các sản phẩm đông lạnh và 31,4% là tôm bóc vỏ đông lạnh. Hai mặt hàng này chiếm hơn 65% tổng khối lượng và hơn 68% tổng giá trị tôm NK. 51,7% tôm từ Việt Nam gồm tôm bóc vỏ đông lạnh. Tôm đông lạnh chiếm 50,6% trong tổng doanh thu từ tôm XK của Inđônêxia. 53,5% khối lượng tôm của Trung Quốc vào Mỹ trong năm ngoái là tôm đông lạnh bao bột, và 24,3% là các sản phẩm đông lạnh khác.
Một điểm thú vị nữa là trong khi các nước Châu Á tập trung tăng doanh thu từ các sản phẩm tôm giá trị gia tăng tại Mỹ th́ các nước Mỹ Latinh chủ yếu bán tôm nguyên vỏ đông lạnh. Tôm đông lạnh nguyên vỏ chiếm 90% tổng giá trị tôm xuất từ Mêhicô, và 77,4% từ Êcuađo. Tôm đông lạnh bóc vỏ cũng là mặt hàng xuất khẩu quan trong nhất của các nước c̣n lại.
C̣n nữa...
Ngọc Diệp ] |